Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2016


BÁO CÁO TÓM TẮT "Khảo sát các yếu tố liên quan đến việc sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại của phụ nữ từ 15-49 tuổi có chồng tại huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau năm 2011"
BS.CK1. Tô Văn Lành
1. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến
Hiện nay dân số - kế hoạch hóa gia là một trong những vấn đề có liên quan đến kinh tế - xã hội, là một trong những yếu tố nâng cao chất lượng cuộc sống của con người; Áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại ngoài mục đích hạn chế sự gia tăng dân số còn nhằm bảo vệ sức khỏe của người phụ nữ và trẻ em, đồng thời đem lại hạnh phúc cho gia đình và toàn xã hội, góp phần quyết định thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2. Phạm vi triển khai thực hiện
Nghiên cứu này được triển khai thực hiện tất cả phụ nữ 15-49 tuổi có chồng, có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
3. Mô tả sáng kiến
Đặt vấn đề: Thực hiện dân số - kế hoạch hóa gia đình là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu, là yếu tố nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội; Kế hoạch hóa gia đình ngoài mục đích hạn chế sự gia tăng dân số còn nhằm bảo vệ sức khỏe của người phụ nữ và trẻ em, đồng thời đem lại hạnh phúc cho gia đình và toàn xã hội, góp phần quyết định thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại tăng theo hàng năm, nhưng tiềm ẩn những nguy cơ thiếu bền vững, tình trạng các cặp vợ chồng mang thai ngoài ý muốn và nạo phá thai vẫn còn cao. Mức sinh sẽ tăng trở lại trong thời gian tới, nếu các ngành chức năng buông lỏng trong công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả. Được tiến hành bằng cách phỏng vấn trực tiếp phụ nữ có chồng độ tuổi từ 15-49 tuổi theo bộ câu hỏi được soạn sẵn.
Kết quả nghiên cứu:
Hiện nay có 91,1% chị em phụ nữ đang sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại, chủ yếu là dung cụ tử cung 48%; tỷ lệ các cặp vợ chồng có 2 con 63,9%, 3 con chiếm 5,8% và đối tượng nghiên cứu có số con trên 3 con là 2,3% 
Nguồn cung cấp thông tin chủ yếu là truyền thông trực tiếp 46,8%, qua thông tin đại chúng 12,7%; Tuyến xã là cơ sở cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình là chủ yếu chiếm 61,1%.
Hiện nay chị em phụ nữ quan tâm nhiều đến chất lượng và thái độ phục vụ dịch vụ kế hoạch hóa gia đình hơn các loại dịch vụ khác 71,1%
Đối tượng nghiên cứu có trình độ từ THCS trở lên có kiến thức tốt về biện pháp tránh thai cao hơn những đối tượng có trình độ từ Tiểu học trở xuống gấp 0,74 lần và có mối liên quan chặt chẽ với nhau
4. Kết quả, hiệu quả mang lại
Qua kết quả nghiên cứu lần này, chúng ta thấy rằng việc cung cấp truyền thông về công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, đặc biệt vấn đề áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại đối với chị em phụ nữ 15-45 tuổi có chồng là hết sức cần thiết, chẳng những duy trì tính bền vững tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, đồng thời hạn chế các cặp vợ chồng mang thai ngoài ý muốn, đem lại sự ấm no, hạnh phúc cho mọi người, góp phần xây dựng phát triển kinh tế, xã hội và phồn vinh của đất nước
5. Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến
Nghiên cứu ”Khảo sát các yếu tố liên quan đến việc sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại của phụ nữ từ 15-49 tuổi có chồng tại huyện Cái Nước” có phạm vi ảnh hưởng trong toàn tỉnh Cà Mau
6. Kiến nghị, đề xuất
Tăng cường công tác truyền thông, giáo dục về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, chú trọng đến truyền thông trực tiếp hộ gia đình, nhằm nâng cao sự hiểu biết và khuyến khích các gia đình, các cặp vợ chồng, các cá nhân tự nguyện tham gia thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình
Tăng cường đầu tư cho trạm y tế xã, thi trấn về cơ sở vật chất, trang thiết bị và chuyên môn kỹ thuật, thực hiện cung cấp dịch vụ đạt chuẩn quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản- kế hoạch hóa gia đình. Có chính sách đãi ngội tạo điều kiện cho cán bộ làm công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình ở xã, ấp, khóm hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Cơ quan chức năng cần quan tâm, đầu tư, kiểm tra, giám sát đến chất lượng và thái độ phục vụ các cơ sở nhà nước, ngoài nhà nước về thực hiện cung cấp dịch vụ biện pháp tránh thai hiện đại cho chị em phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, đáp ứng nhu cầu thời kỳ hiện nay./.




Thứ Hai, 29 tháng 9, 2014

Hoi thi viet ke chuyen ve tam guong dao duc Ho Chi Minh nam 2014

KẾ HOẠCH
TỔ CHỨC HỘI THI VIẾT KỂ CHUYỆN
VỀ TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

Căn cứ kế hoạch học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của Chi bộ và kế hoạch phát động phong trào thi đua của Công đoàn cơ sở Trung tâm Y tế năm 2014;
Nhằm thiết thực lập thành tích chào mừng kỷ niệm 124 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 2014) và tiếp tục việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14 tháng 5 năm 2011 của Bộ Chính trị khóa XI. Ban Chấp hành CĐCS Trung tâm Y tế xây dựng kế hoạch tổ chức Hội thi viết "Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", cụ thể như sau:
I. MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA
- Cuộc thi kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một hoạt động chính trị - xã hội, nhằm tuyên truyền sâu rộng trong đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức về tư tưởng, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh;
- Thông qua Hội thi, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức của đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức trong toàn đơn vị;
- Qua Hội thi nhằm tiếp tục tuyên truyền sâu rộng trong đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và đoàn viên, thanh niên về tư tưởng đạo đức cách mạng về nêu cao trách nhiệm, chống chủ nghĩa cá nhân, nói đi đôi với làm và tấm gương đạo đức sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
II. NỘI DUNG, HÌNH THỨC VÀ YÊU CẦU
1. Nội dung: Viết những mẫu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (Gợi ý: các mẫu chuyện về ý chí, nghị lực và tinh thần yêu nước nồng nàn của Bác; tuyệt đối tin tưởng và kính trọng nhân dân; nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu, hết mực vì con người; chí công vô tư, đời sống trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn, trung thực, chân thành, các thi sinh nên tập trung vào chủ đề năm 2014 “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nêu cao trách nhiệm, chống chủ nghĩa cá nhân, nói đi đôi với làm”), liên hệ thực tế về việc làm, đạo đức, lối sống và bài học kinh nghiệm đúc kết từ câu chuyện đối với bản thân.
2. Hình thức và yêu cầu
2.1. Hình thức thi
- Mỗi tổ công đoàn chọn ít nhất một mẫu chuyện về phẩm chất đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà mình tâm đắc nhất, từ đó xây dựng đề cương trên cơ sở câu chuyện minh họa cho phẩm chất đạo đức đó
- Thí sinh trình bày theo hình thức viết bằng văn bản, nội dung trình bài phải chặt chẽ theo trình tự sau:
+ Phần mở đầu: Thí sinh phải nêu được khái quát câu chuyện; lý do chọn câu chuyện và câu chuyện này nói lên mục đích gì
+ Phần nội dung: Trích dẫn câu chuyện, câu chuyện trên được ai trích dẫn, trích dẫn ở đâu (sách nào, nếu trích dẫn từ Internet thì phải nói rõ địa chỉ trang Website nào…), vào điểm nào
+ Bài học rút ra từ các câu chuyện: Qua câu chuyện trên, thí sinh rút ra được bài học gì trên thực tế công việc, ngành, nghề hiện nay mình đang phụ trách
- Văn bản trình bài phải được mạch lạc, rõ ràng, sạch sẽ, không được tẩy xoá, không viết tắt, in trên giấy trắng (một mặt) khổ A4, soạn thảo theo kiểu chữ Times New Roman, cở chữ 14 của hệ soạn thảo Windows, mật độ chữ ở chế độ bình thường, dãn dòng đặt ở chế độ 1.5lines, lề trên 3,5cm, lề dưới 3cm, lề trái 3,5cm, lề phải 2,5cm, số trang được đánh ở giữa lề trên của mỗi trang, đóng bìa cứng, in chữ chân phương dễ đọc, đủ dấu tiếng Việt
2.2. Yêu cầu
- Câu chuyện kể về Bác cần đảm bảo tính trung thực, khách quan, giản dị, mộc mạc và gần gũi với hình ảnh của Bác trong cuộc sống hàng ngày;
- Thí sinh biên soạn đề cương theo nội dung kể chuyện đăng ký. Đề cương chuẩn bị không hạn chế số trang;
- Khuyến khích thí sinh tăng phần liên hệ với địa phương và bản thân (theo đề cương đã chuẩn bị);
- Thí sinh dự thi sử dụng các tài liệu về tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh đã được phát hành, phổ biến chính thức (có thể tham khảo trên mục Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trên website, hoặc trên sách Nhà xuất bản Thanh niên…);
2.3. Thời gian nộp đề cương và công bố kết quả
-  Mỗi thí sinh tham gia phải gửi đề cương bài dự thi của mình về Đ/c Lê Thị Diệu trước ngày 06/6/2014 để Ban Giám khảo duyệt nội dung;
- Nộp bài dự thi chính thức hạn chót hết ngày 20/8/2014 (Thí sinh phải nộp cho Ban giám khảo 06 quyển và mỗi thí sinh gửi bài qua địa chỉ emil tolanh71@gmail.com)
- Dự kiến công bố kết quả vào 02/9/2014
III. ĐỐI TƯỢNG THAM GIA
Tất cả đảng viên, cán bộ công chức, viên chức, tổ y tế, nhân viên y tế khóm ấp trực thuộc Trung tâm Y tế Cái Nước 
Lưu ý: Mỗi tổ công đoàn phải có ít nhất 01 đoàn viên, thanh niên tham gia Hội thi (Ban tổ chức và Ban giám khảo không tham gia dự thi)
IV. BAN TỔ CHỨC VÀ BAN GIÁM KHẢO
1. Thành phần Ban Tổ chức
     - Đ/c Nguyễn Hồng Cầu    Bí thư Chi bộ                         Trưởng ban  
     - Đ/c Tô Văn Lành             P. Bí thư Chi bộ, CT CĐCS   Phó trưởng ban
     - Đ/c Đỗ Thanh Tú            Chi uỷ viên                              Uỷ viên
- Đ/c Mai Văn Kha           BTV CĐCS                            Uỷ viên
2. Thành phần Ban Giám khảo
     - Đ/c Nguyễn Hồng Cầu    Bí thư Chi bộ                         Trưởng ban  
     - Đ/c Tô Văn Lành             P. Bí thư Chi bộ, CT CĐCS   Phó trưởng ban
     - Đ/c Đỗ Thanh Tú            Chi uỷ viên                              Uỷ viên
- Đ/c Mai Văn Kha           BTV CĐCS                            Uỷ viên
- Đ/c Trần Cẩm Vân          BTV CĐCS                            Uỷ viên
- Đ/c Nguyễn Minh Thi     BCH CĐCS                            Uỷ viên
V. CƠ CẤU GIẢI THƯỞNG
Giải thưởng
Số giải
Tiền thưởng
Tổng cộng
Giải nhất
01
700.000đ
700.000đ
Giải nhì
01
500.000đ
500.000đ
Giải ba
01
400.000đ
400.000đ
Giải khuyết khích
02
300.000đ
600.000đ
Tổng cộng giải thưởng:         2.200.000đ (Hai triệu hai trăm ngàn đồng)
VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
- Ban Chấp hành CĐCS Trung tâm Y tế xây dựng kế hoạch trình Chi bộ, tổ chức Hội thi viết những mẫu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
- Các tổ công đoàn triển khai cho toàn thể cán bộ, công chức, viên chức tích cực tham gia hội thi viết những mẫu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chào mừng kỷ niệm 124 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 2014), thí sinh dự thi phải thực hiện đúng theo nội dung kế hoạch đề ra
Trên đây là kế hoạch thực hiện Hội thi viết những mẫu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của CĐCS Trung tâm Y tế Cái Nước, đề nghị các tổ công đoàn triển khai thực hiện tốt kế hoạch đề ra và rất mong Chi bộ Trung tâm Y tế hỗ trợ và tạo điều kiện cho CĐCS thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao./.

CHI BỘ










Nơi nhận:
- Chi bộ;
- BCHDDCS TTYT;
- Các tổ công đoàn;
- Lưu: CĐCS.
TM. BCHCĐ
CHỦ TỊCH




TÔ VĂN LÀNH


Thứ Tư, 20 tháng 11, 2013

Nnghiên cứu khoa học_HIV/AIDS

 Tô Văn Lành, PGĐ Trung tâm Y tế Cái Nước
TÓM  TẮT
Đặt vấn đề: Nhiễm HIV/AIDS là một thảm họa về sức khỏe của thế kỷ XX – XXI, hậu quả nghiêm trọng của HIV/AIDS là ngoài việc cướp đi cuộc sống của con người, còn làm bại hoại cả xã hội, một cộng đồng dân cư hay một nền văn hóa nào đó. Để ngăn chặn sự lan truyền HIV trong cộng đồng, cần có sự tuyên truyền, giáo dục đúng mức và hướng tới nhiều người, đặc biệt lứa tuổi học sinh trong tình hình địa phương hiện nay
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả. Được tiến hành bằng cách phỏng vấn trực tiếp các em học sinh theo bộ câu hỏi được soạn sẵn.
Kết quả nghiên cứu: Về kiến thức, thái độ và hành vi: Tlhc sinh có kiến thc chung đúng về phòng lây nhiễm HIV/AIDS là 85,4%, có thái độ và hành vi đúng là 81,8%; Về công tác truyền thông: nhận được thông tin về phòng chống HIV/AIDS 94,1%; Về mối liên quan: có mối liên quan chặt chẽ giữa yếu tố truyền thông với kiến thức, thái độ và hành vi của các em học sinh về phòng lây nhiễm HIV/AIDS.
Kết luận: Kiến thức, thái độ, hành vi và mối liên quan của học sinh tương đối cao; có mối liên quan chặt chẽ giữa yếu tố truyền thông với kiến thức, thái độ và hành vi của các em học sinh về phòng lây nhiễm HIV/AIDS
ĐẶT  VẤN  ĐỀ
Nhiễm HIV/AIDS là một thảm họa về sức khỏe của thế kỷ XX – XXI, hậu quả nghiêm trọng của HIV/AIDS là ngoài việc cướp đi cuộc sống của con người, còn làm bại hoại cả xã hội, một cộng đồng dân cư hay một nền văn hóa nào đó [3].
Để ngăn chặn sự lan truyền HIV cần làm cho mọi người hiểu đúng về bệnh và có thái độ tích cực phòng bệnh trong chương trình vì sức khỏe cộng đồng cả nước nhằm giúp mọi người hiểu rõ hơn về căn bệnh này và tự mình có thể tránh nguy cơ bị lây nhiễm. Đặc biệt là cần phải tuyên truyền, giáo dục cho giới trẻ về các biện pháp phòng chống HIV/AIDS, vì hiện nay thực trạng về sự hiểu biết của cộng đồng về bệnh AIDS vẫn cò hạn chế [3].
Tính đến nay đã có khoảng 60 triệu người trên hành tinh đã nhiễm HIV, trong đó có khoảng 25 triệu người đã chết do các bệnh có liên quan đến AIDS. Việt Nam gần 200 ngàn người nhiễm HIV và trên 50 ngàn trường hợp tử vong, Cà Mau tổng số trường hợp nhiễm HIV phát hiện trên 3 ngàn người và có trên 200 trường hợp tử vong, huyện Cái Nước có 128 trường hợp nhiễm HIV, trong đó có 40 người chuyển sang giai đọan AIDS và có 12 trường hợp tử vong. Hơn nữa, huyện Cái Nước với đặc điểm là một huyện có trục giao thông quốc lộ 1 A nối dài và có nhiều tụ điểm ăn chơi, nhà nghỉ mới nỗi, một số tệ nạn ma tuý, mại dâm dưới những hình thức trá hình vẫn còn tồn tại; mặt khác trình độ dân trí một bộ phận người dân vẫn còn thấp, ý thức phòng bệnh chưa cao. Tuy đã có nhiều đề tài nghiên cứu về HIV/AIDS trong tỉnh, nhưng tìm hiểu kiến thức, thái độ và hành vi của học sinh phổ thông trung học về phòng lây nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn huyện Cái Nước hiện nay là rất cần thiết, từ đó góp phần định hướng cho việc xây dựng kế hoạch phòng chống HIV/AIDS hiệu qủa trên địa bàn trong thời gian tới [1], [2], [3], [4].

Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát kiến thức, thái độ, hành vi và mối liên quan của học sinh phổ thông trung học tại huyện Cái Nước về phòng lây nhiễm HIV/AIDS năm 2012
ĐỐI  TƯỢNG - PHƯƠNG  PHÁP  NGHIÊN  CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Các trường Trung học phổ thông (THPT) thuộc huyện Cái Nước năm học 2012 - 2013
Đối tượng nghiên cứu: học sinh
Cỡ mẫu: 390 người
Phương pháp thu thập dữ liệu
Nghiên cứu được tiến hành bằng cách phỏng vấn trực tiếp các em học sinh theo bộ câu hỏi được soạn sẵn. Để thu thập số liệu chúng tôi tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, gồm 3 bước: bước 1 chọn điểm trường (trong huyện có 3 điểm trường THPT nên chúng tôi chọn hết 3 điểm trường); bước 2 lập danh sách tất cả các em học sinh của 03 điểm trường; bước 3 chọn đối tượng bằng phương pháp ngẫu nhiên hệ thống
Xử l‎‎ý và phân tích dữ liệu
Sau khi điều tra trực tiếp đối tượng trên, dữ liệu sẽ được làm sạch. Các phiếu điều tra không hợp lệ sẽ bị loại ra, sau đó nhập và phân tích dữ liệu bằng chương trình phần mềm SPSS 16.0
KẾT  QUẢ  VÀ  BÀN  LUẬN
Đặc điểm của mẫu nghiên cứu
Học sinh đi học ở các xã nhiều hơn ở thị trấn (73,8% - 26,2%); khối lớp 10 chiếm nhiều nhất 49%, khối lớp 11 và khối lớp 12 có tỷ lệ tương đương (25,4; 25,6); đối tượng nam và nữ trong nghiên cứu chiếm tỷ lệ tương đương nhau (52,1 - 47,9); nơi ở đi học của đối tượng nghiên cứu chủ yếu ở gia đinh (70%); học sinh có hoàn cảnh kinh tế gia đình không nghèo, có đủ điều kiện học tập chiếm 92,6%; trong đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn có nhiều người yêu chiếm 75,4% và số học sinh có kết quả học tập kém chiếm 2,8%.
Truyền thông vê phòng lây nhiễm HIV/AIDS
Học sinh trong nghiên cứu đa số nhận được thông tin về phòng chống HIV/AIDS (94,1%). Nhận thông tin từ sách, báo, tivi, truyền thanh, phát thanh chiếm tỷ lệ cao nhất (40,5%); đặc biệt nhận thông tin từ cán bộ y tế chiếm tỷ lệ khá thấp (2,5%)
Kiến thức về phòng lây nhiễm HIV/AIDS
Bảng 1: Tỉ lệ học sinh có kiến thức đúng
Nhận xét: Học sinh hiểu biết về HIV/AIDS (78,2%), hiểu biết về đối tượng có nguy cơ lây nhiễm HIV(94,4%), hiểu biết về vắc xin phòng ngừa và thuốc điều trị đặc hiệu bệnh HIV/AIDS (91,8%), đặc biệt hiểu biết về các biện pháp phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS chiếm tỉ lệ khá cao (99,7%). Tuy nhiên vẫn còn một số kiến thức hiểu biết về phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS còn thấp như hiểu biết về ngày Quốc tế phòng, chống HIV/AIDS (69,7%); hiểu biết về các giai đoạn nhiễm HIV/AIDS (46,9).
Thái độ và hành vi về phòng lây nhiễm HIV/AIDS
Bảng 2: Tỉ lệ học sinh có thái độ và hành vi đúng
Nhận xét: Tỉ lệ học sinh có thái độ và hành vi chung đúng về phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS chiếm tỷ lệ tương đối cao (81,8%), đặc biệt 6 câu hỏi về phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS khi hỏi đối tượng nghiên cứu đều có thái độ và hành vi đúng đạt trên 92%
Mối liên quan đến kiến thức về VSATTP
Bảng 3: Mối liên quan giữa đặc điểm dân số xã hội với kiến thức, thái độ và hành vi chung
Nhận xét: Qua kết quả nghiên cứu, cho chúng ta thấy đặc điểm các yếu tố cá nhân của học sinh không có mối liên quan với kiến thức, thái độ và hành vi chung về phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS, hay nói cách khác là chưa có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê (p> 0,05) 
Bảng 4: Mối liên quan giữa truyền thông chung với kiến thức về ngày phòng chống HIV/AIDS và phân biệt đối xử
Nhận xét: Có mối liên quan chặt chẽ giữa nghe truyền thông chung và kiến thức về ngày phòng chống HIV/AIDS và sự phân biệt đối xử của đối tượng nghiên cứu về phòng lây nhiễm HIV/AIDS. Hay nói cách khác là có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê giữa nghe truyền thông chung và kiến thức về ngày phòng chống HIV/AIDS và sự phân biệt đối xử của học sinh về phòng lây nhiễm HIV/AIDS (< 0,05).
Bảng 5: Mối liên quan giữa giữa truyền thông chung và kiến thức chung của học sinh
Nhận xét: Có mối liên quan chặt chẽ giữa nghe truyền thông chung và kiến thức chung của học sinh về phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS, học sinh nghe truyền thông chung có kiến tốt về phòng lây nhiễm HIV/AIDS cao gấp 4,7 lần so học sinh chưa nghe truyền thông (OR= 4,72; p< 0,05).
Bảng 6: Mối liên quan giữa truyền thông với thái độ và hành vi chung của đối tượng nghiên cứu về phòng lây nhiễm HIV/AIDS
Nhận xét: Có mối liên quan chặt chẽ giữa nghe truyền thông chung với thái độ và hành vi chung của học sinh về phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS. Hay nói cách khác là có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê giữa nghe truyền thông chung với thái độ và hành vi chung của học sinh về phòng lây nhiễm HIV/AIDS, học sinh nghe truyền thông có thái độ và hành vi tốt về phòng lây nhiễm HIV/AIDS cao gấp 3,8 lần so học sinh chưa nghe truyền thông (OR= 3,85; p< 0,05).
Bảng 7: Mối liên quan giữa kiến thức chung với thái độ và hành vi chung
Nhận xét: Có mối liên quan chặt chẽ giữa kiến thức chung với thái độ và hành vi chung của học sinh về phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS. Học sinh có kiến thức tốt có thái độ và hành vi tốt về phòng lây nhiễm HIV/AIDS cao gấp 9,6 lần so học sinh có kiến thức không tốt (OR= 9,64; p< 0,05).
KẾT  LUẬN
Tlhc sinh có kiến thc chung về phòng lây nhiễm HIV/AIDS là tương đối cao (85,4%), đặc biệt là đối tượng nghiên cứu trlời đúng từng loi kiến thc chiếm tỷ lệ >95%. Tuy nhiên tlhọc sinh có kiến thức đầy đủ các giai đoạn về bệnh HIV/AIDS đạt còn thấp (46,9%); tlhc sinh có thái độ và hành vi chung về phòng lây nhiễm HIV/AIDS cũng tương đối cao (81,8%), khi hỏi cụ thể về phòng lây nhiễm HIV/AIDS học sinh có thái độ và hành vi đúng chiếm tỷ lệ > 92%; đa số học sinh được tiếp cận truyền thông về phòng lây nhiễm HIV/AIDS (94,1%) và chủ yếu nhận thông tin từ sách, báo, tivi, truyền thanh, phát thanh chiếm tỷ lệ cao nhất, tuy nhiên tiếp cận thông tin từ cán bộ y tế và trường học chiếm tỷ lệ còn khá thấp (2,5%).
Những học sinh có tỷ lệ kiến thức đúng sẽ có thái độ và hành vi đúng về phòng lây nhiễm HIV/AIDS gấp 9 lần những học sinh không có kiến thức chung đúng và trong nghiên cứu chúng tôi cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa yếu tố truyền thông chung với kiến thức, thái độ và hành vi chung của học sinh về phòng lây nhiễm HIV/AIDS. Tỷ lệ học sinh nhận được thông tin truyền thông có kiến thức, thái độ và hành vi chung đúng gấp 3 lần những học sinh không nhận được truyền thông; nguồn thông tin từ sách, báo, tivi, truyền thanh, phát thanh là nguồn thông tin phổ biến nhất mà học sinh thu nhận được về phòng lây nhiễm HIV/AIDS; học sinh nhận thông tin từ cán bộ y tế và trường học còn rất thấp. Do vậy, thời gian tới ngành Y tế cần phối hợp chặt chẽ với ngành Giáo dục và Đào tạo cần tăng cường tổ chức thực hiện thường xuyên công tác truyền thông về phòng lây nhiễm HIV/AIDS, tổ chức các buổi nói chuyện mang hình thức diễn đàn, những cuộc thi về HIV/AIDS hay những buổi văn nghệ với chủ đề về phòng lây nhiễm HIV/AIDS
KIẾN NGHỊ
Tăng cường công tác truyền thông, cần ưu tiên về thời điểm, thời lượng, phát sóng trên đài phát thanh, truyền hình, dung lượng và vị trí đăng trên báo in, báo điện tử đối với thông tin, giáo dục, truyền thông về PC HIV/AIDS, chuyển tải các thông điệp truyền thông đến người dân, đặc biệt đối tượng học sinh phổ thông trung học trong tình hình hiện nay
Các cấp các ngành cần quan tâm đến các hoạt động truyền thông trực tiếp, vì nguồn thông tin này cũng đã thu hút được đông đảo mọi người quan tâm, đặc biệt cán bộ Y tế, đồng đẳng viên … thực hiện qua các đợt “Tháng cao điểm dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, “Tháng hành động Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS”…         
Ngành Y tế cần phối hợp chặt chẽ với ngành Giáo dục và Đào tạo có kế hoạch, chương trình hành động cụ thể, thường xuyên tuyên truyền, giáo dục học sinh, tổ chức sinh hoạt dưới cờ, tọa đàm, thi tìm hiểu về phòng lây nhiễm HIV/AIDS, để các em có được kiến thức cơ bản về phòng lây nhiễm HIV/AIDS, từ đó các em học sinh có thái độ và hành vi tốt, góp phần đẩy lùi bệnh dịch HIV/AIDS trong thời gian tới.
CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài chúng tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu lãnh đạo Trung tâm Y tế, các thầy cô và các em học sinh Trường THPT Cái Nước, Nguyễn Mai, Phú Hưng thuộc huyện Cái Nước. Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô và các em học sinh đã nhiệt tình trả lời đầy đủ các câu hỏi đặt ra và xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và động viên hoàn thành đề tài. Kính chúc quý thầy cô, các em học sinh quý cơ quan, gia đình và bạn bè mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công mọi lĩnh vực
TÀI  LIỆU  THAM  KHẢO
1. Bộ Y tế (2008), Chương trình phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam, nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr 14-34
2. Bộ Y tế (2008), Báo cáo Quốc gia lần thứ ba về việc thực hiện tuyên bố cam kết về HIV/AIDS (giai đoạn 1/2006-12/2007), Hà Nội, tr 8.
3. Cục Phòng, chống HIV/AIDS Việt Nam-Bộ Y tế, Chăm sóc HIV/AIDS tại cộng đồng, nhà xuất bản Hà Nội, năm 2007, tr 6-11

4. Trung tâm Y tế Cái Nước (2009), Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2009. Tài liệu Hội nghị 01/2010